Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Bị dừng xe, chủ phương tiện có quyền làm gì?


Bị dừng xe, chủ phương tiện có quyền làm gì?

Nếu bị cảnh sát giao thông dừng phương tiện trên đường, người tham gia giao thông được quyền làm gì và phải lưu ý điều gì để tránh bị phạt hoặc tránh dẫn đến hành vi “chống người thi hành công vụ

Mặc dù lưu thông trên đường, nhưng rất ít người tham gia giao thông biết được toàn bộ “quy trình” cần thiết phải làm nếu gặp cảnh sát giao thông (CSGT) hoặc nhận hiệu lệnh dừng xe của CSGT.
Theo Trung tá Lương Đình Hợi, Đội tuyên truyền và Điều tra giải quyết tai nạn giao thông Phòng Cảnh sát Giao thông Hà Nội, nếu bị cảnh sát giao thông dừng phương tiện trên đường, người tham gia giao thông phải có trách nhiệm hợp tác với lực lượng chức năng theo quy định của Luật Giao thông đường bộ chứ không phải được quyền làm gì.
Hình minh họa
Hình minh họa
Theo đó, nếu bị CSGT yêu cầu dừng xe, người điều khiển phương tiện cần phải chấp hành, xuống xe và xuất trình giấy tờ theo đúng quy định tại Luật Giao thông đường bộ.
Theo đó, người tham gia giao thông cần biết, điều kiện của người lái xe tham gia giao thông theo Điều 58 Luật Giao thông đường bộ: Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; Người tập lái xe ô tô khi tham gia giao thông phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viên bảo trợ tay lái.
Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau: Đăng ký xe; Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Trung tá Lương Đình Hợi đặc biệt nhấn mạnh rằng, người điều khiển phương tiện cần xuống xe và hợp tác với CSGT, không nên ngồi trên xe rồi hất hàm hỏi ngay: “Tôi đi đúng luật sao lại dừng xe của tôi?”. Bởi, khi một phương tiện nào đó nhận được hiệu lệnh dừng xe của CSGT chắc chắn phải có lỗi gì đó. Khi người điều khiển phương tiện xuống xe, sẽ được CSGT thông báo lỗi vi phạm cụ thể.
Cũng theo Trung tá Lương Đình Hợi, ngoài lực lượng CSGT trên đường, ở Hà Nội còn 15 tổ 141 hoạt động và cũng thực hiện việc dừng phương tiện để kiểm tra. Riêng đối với lực lượng này thì khi dừng xe yêu cầu kiểm tra không nhất thiết người điều khiển phương tiện phải có biểu hiện vi phạm rõ ràng mà chỉ có dấu hiệu nghi vấn là lực lượng này có quyền dừng để kiểm tra.
Bên cạnh đó, Bộ Công an có quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của CSGT rất cụ thể: Trong trường hợp người lái xe không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của CSGT mà bỏ chạy thì trước hết CSGT phải ghi nhận các đặc điểm nhận dạng, biển số và đặc điểm của người điều khiển phương tiện.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của người lái xe mà tổ trưởng tổ tuần tra, kiểm soát quyết định tổ chức lực lượng, phương tiện, biện pháp thực hiện việc truy đuổi, tuy nhiên phải đảm bảo an toàn cho cán bộ chiến sĩ và người tham gia giao thông.
Ngoài ra, lực lượng CSGT thông báo cho các lực lượng kiểm soát giao thông liền kề trên tuyến, các lực lượng khác hỗ trợ và báo chỉ huy đơn vị để chỉ đạo. Lực lượng tuần tra kiểm soát liền kề khi nhận được thông tin sẽ hỗ trợ triển khai ngay lực lượng, duy trì chế độ thông tin liên lạc để phối hợp ngăn chặn. Đồng thời trong khi truy đuổi phải giữ tốc độ và khoảng cách an toàn giữa xe tuần tra với xe vi phạm, dùng loa, còi và hiệu lệnh yêu cầu người lái xe bỏ chạy dừng lại hoặc tìm cách vượt lên phía trước để ngăn chặn hành vi vi phạm.
Trong khi thực hiện việc ngăn chặn hành vi lái xe vi phạm bỏ chạy, nếu xảy ra các vụ việc gây thiệt hại về tài sản của cá nhân, Nhà nước hay sức khỏe, tính mạng người dân thì trước hết tổ tuần tra phải bảo vệ hiện trường, tổ chức cấp cứu người bị nạn (nếu có), báo cáo lãnh đạo cấp đơn vị để chỉ đạo. Lực lượng CSGT cũng phải báo cho các cơ quan, đơn vị có liên quan để phối hợp giải quyết theo quy định.

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013


Một cách nhìn chủ quan, phiến diện


Gần đây, trên một số trang mạng và cơ quan truyền thông ở nước ngoài, trong đó có hãng BBC xuất hiện bài viết dưới nhan đề “So sánh hai biến cố tháng Tám”- so sánh Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và cuộc chính biến tháng 8-1991 ở Liên Xô dựa vào những cảm nhận của ông Nguyễn Minh Cần - theo bài viết là người đã chứng kiến cả hai sự kiện đó. Đọc bài viết nói trên, những người Việt Nam yêu nước và có lòng tự trọng không khỏi bức xúc, bất bình trước sự so sánh khập khiễng với dụng ý xuyên tạc sự thật và những ý kiến cá nhân mang tính tư biện, suy diễn một cách chủ quan, phiến diện của ông Cần.


Khi được hỏi cảm nhận về Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, ông Nguyễn Minh Cần nói rằng: “Chúng tôi tham gia Cách mạng tháng Tám với ý nghĩ chân thành, đất nước được tự do, độc lập với những lời hứa hẹn của Việt Minh lúc bấy giờ là mở rộng dân chủ, tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, hội họp, ngôn luận… Đáng tiếc là khi Đảng Cộng sản lên cầm quyền những điều đó đã không được thực hiện”. Ông Cần càng tỏ rõ sự hồ đồ khi cho rằng: Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và "cách mạng Dân chủ" (theo cách nghĩ của ông Cần) ở Nga năm 1991, đều thất bại (!), vì đã "không đem lại dân chủ, tự do thực sự cho người dân...". Không hiểu ông Cần lấy tư cách gì mà phán như vậy? 

Ảnh minh họa/Internet.
Nhiều người đặt câu hỏi: Ông Nguyễn Minh Cần là người như thế nào mà cố tình bóp méo lịch sử, ngoảnh mặt, quay lưng lại với đất nước, xúc phạm lòng tự tôn dân tộc như vậy? Được biết, ông Nguyễn Minh Cần sinh ra ở Huế, năm nay 85 tuổi, từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và là Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội... Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dốc lòng, dốc sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc, Nguyễn Minh Cần được Nhà nước ta cử ra nước ngoài học tập để trở về phục vụ đất nước, nhưng với những toan tính cá nhân cơ hội, thực dụng, ông ta đã xin cư trú tại nước ngoài từ đó đến nay. Những tưởng ở tuổi xế chiều, Nguyễn Minh Cần sẽ sống yên phận và nuôi hy vọng có cơ hội trở về quê hương - nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng ông ta đã đăng đàn trên một số trang mạng với giọng điệu hằn học, cay độc, cố tình bôi đen lịch sử và xuyên tạc tình hình ở Việt Nam, phủ nhận những thành quả của cách mạng, bài xích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đập tan ách thống trị của thực dân và phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam), một nhà nước với thể chế chính trị dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, hy sinh, đánh thắng những kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước lên CNXH.

Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, dân tộc ta tiếp tục vượt qua “cơn lốc lớn” làm sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, giữ vững chế độ XHCN ở Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy dân chủ XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hơn 25 năm qua, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo được thế và lực mới để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Những thắng lợi đó đã tạo nên sự tiến bộ rõ nét của con người và xã hội Việt Nam, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, ổn định và phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…” và nhấn mạnh: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển”, "Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước". Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có những cố gắng rất lớn trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã hoàn thành sớm một số mục tiêu như: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực; phổ cập giáo dục tiểu học; cơ bản hoàn thành mục tiêu về bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; bước đầu ngăn chặn được sự lây lan HIV và đang ở “ngưỡng cửa” hoàn thành mục tiêu giảm tử vong ở trẻ em v.v... Mặc dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, năm 2012, nước ta đã đạt được những chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Chúng ta đã cơ bản thực hiện được mục tiêu tổng quát đề ra, đặc biệt đã thực hiện được mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý (tăng trưởng hơn 5%); các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, bảo đảm (tỷ lệ hộ nghèo giảm được 1,76%); chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững; vai trò và vị thế của đất nước tiếp tục được nâng cao. 

Dù còn không ít khó khăn và hạn chế, song những thành tựu của Việt Nam về phát triển con người, thực thi dân chủ đã và đang được thực tiễn chứng minh và khẳng định, không thể phủ nhận. Không phải ngẫu nhiên, ngày 28-5-2012, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam thường trú tại Mỹ, Thượng nghị sĩ John McCain - người từng là ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa - đã đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, nhất là những tiến bộ đáng kể trong đời sống của nhân dân. Thượng nghị sĩ John McCain nhấn mạnh: “Với những bước tiến đó đã tạo nên hình ảnh và tầm ảnh hưởng của Việt Nam không chỉ trong khu vực ASEAN, mà còn ở các tổ chức quốc tế khác”. Rồi nữa, ngay tướng Nguyễn Cao Kỳ - người từng được coi là có tư tưởng chống Cộng cực đoan - đã xúc động không cầm nổi nước mắt khi lần đầu tiên được trở về cội nguồn (tháng 1-2004), sau 30 năm ở nơi đất khách quê người. Từ đó, sau nhiều lần về thăm quê hương, cảm nhận trực tiếp những phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân, Nguyễn Cao Kỳ bày tỏ niềm tin tưởng: “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đủ trí tuệ để chèo chống và đưa đất nước tiến lên” và nguyện vọng của ông ta là sau khi nhắm mắt, xuôi tay được yên nghỉ nơi quê cha đất tổ.

Nếu thực sự còn tỉnh táo thì tại sao ông Nguyễn Minh Cần, “người được chứng kiến cả hai sự kiện lịch sử” nói trên, lại có thể đánh đồng Cách mạng tháng Tám 1945 - một sự kiện lịch sử hào hùng, thiêng liêng của dân tộc và có ý nghĩa thời đại sâu sắc với cuộc chính biến tháng 8 -1991 ở Liên Xô - một trang sử đau buồn của nhân dân Xô-viết và của nhân loại tiến bộ? Chính những nhận định hồ đồ này cho thấy ông chỉ là người “cưỡi ngựa xem hoa”, đứng ngoài những sự kiện lịch sử trọng đại, thờ ơ, vô cảm với vận mệnh của dân tộc và sự thịnh suy của đất nước. Tuy vậy, ông đã ngộ nhận, lầm tưởng mình là một “vĩ nhân am hiểu thời thế”, lại thêm những bức xúc cá nhân do quá đề cao “cái tôi” mà cố tình tráo trở phương pháp, rắp tâm lợi dụng những khó khăn, hạn chế trong quá trình đi lên của đất nước để phủ nhận sạch trơn những thành tựu mà cách mạng đã mang lại cho đất nước và dân tộc.

Những tiếng nói lạc điệu của ông Nguyễn Minh Cần có thể ít nhiều tác động đến một số người nhẹ dạ, cả tin và sự “trở cờ” của ông càng làm cho chúng ta cảm nhận sâu sắc thêm về cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ mang tính cấp thiết, mà còn rất gay go, quyết liệt, lâu dài, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của chế độ và sự an nguy của đất nước.

Theo QĐND

(trích:http://quanlambao111.blogspot.com/2013/01/mot-cach-nhin-chu-quan-phien-dien.html)


Anh đã về với mẹ

NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM NHÂM THÌN, ANH HÙNG LIỆT SĨ LÊ ĐÌNH CHINH - CHIẾN SĨ ĐẦU TIÊN HY SINH TRONG CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC ĐÃ TRỞ VỀ AN NGHỈ TẠI QUÊ HƯƠNG THANH HÓA.

Cùng những cựu binh của Trung đoàn 12, hay còn gọi là “đoàn Thanh Xuyên” năm xưa và người thân của anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh, chúng tôi có mặt tại Nghĩa trang liệt sĩ H.Cao Lộc (Lạng Sơn) vào lúc 3 giờ sáng 5.1 trong cái lạnh tê tái dưới 3 độ C của miền quan ải. Một đống lửa to được đốt lên xua đi hơi sương buốt giá để những người thân chuẩn bị các nghi lễ theo phong tục, cất bốc di cốt của anh hùng Lê Đình Chinh về quê hương bản quán. Rồi chúng tôi chia nhau thắp hương lên những mộ phần còn lại trong nghĩa trang,  những đồng đội đã yên nghỉ cùng anh suốt 35 năm nơi mảnh đất địa đầu Tổ quốc. Ngày mai anh sẽ rời xứ Lạng để trở về quê nhà trong vòng tay của người mẹ già đã cạn khô nước mắt vì chờ con.

Tâm nguyện của mẹ
Còn nhớ vào tháng 2.2011, Báo Thanh Niên đăng bài viết nói về tâm nguyện của bà Khương Thị Chu (mẹ anh hùng Lê Đình Chinh) mong mỏi được đưa hài cốt con trai về an táng tại quê nhà. Sau khi báo đăng, nhiều đồng đội cũ của Lê Đình Chinh đã liên lạc, xin địa chỉ để hỏi thăm động viên mẹ Chu. Đồng thời, những thủ trưởng cũ, đồng đội cũ của anh, đặc biệt là những thành viên trong Ban liên lạc đoàn Thanh Xuyên, đã bắt tay vào việc vận động để đưa hài cốt Lê Đình Chinh về quê. 
Có lẽ không chỉ riêng tôi mà rất nhiều bạn đọc trong cả nước đều có chung một thắc mắc là tại sao sau 35 năm di cốt của Lê Đình Chinh mới được đưa về quê nhà, mặc dù gia đình đã có nguyện vọng từ rất lâu. Chỉ khi tham gia đoàn cất bốc di cốt của anh, tôi mới phần nào lý giải được sự chậm trễ này. Khi biết chúng tôi lên đưa hài cốt Lê Đình Chinh về quê, nhiều người dân ở TP.Lạng Sơn và H.Cao Lộc tỏ ra hết sức lưu luyến, bởi từ lâu Lê Đình Chinh đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và ý chí bất khuất trước kẻ thù của người dân xứ Lạng. Từ chị bán tạp hóa, anh xe ôm, đến những vị lãnh đạo nơi đây đều tự hào khi nhắc đến tên anh. Có lẽ những tình cảm của chính quyền và người dân xứ Lạng dành cho anh hùng Lê Đình Chinh đã khiến nhiều thế hệ lãnh đạo của địa phương và các cơ quan hữu trách bối rối và chần chừ chưa dám quyết để gia đình mang anh về quê cũ.
Ngay cả người quản trang ở Nghĩa trang liệt sĩ H.Cao Lộc cũng vậy. Ông rất nhiệt tình giúp gia đình tiến hành các thủ tục, nhưng cũng rất buồn khi người anh hùng sẽ không còn nằm lại nơi này nữa. Theo thông lệ ở đây, khi hài cốt của các liệt sĩ được người thân đưa về bản quán thì tấm bia mộ cũng được gỡ ra để giao lại cho gia đình gắn lên mộ mới như một chút tình của người xứ Lạng gửi đến hương hồn các liệt sĩ. Nhưng với anh Chinh thì khác. Ông quản trang mà tôi chưa kịp hỏi tên đã ngậm ngùi xin giữ lại tấm bia tại nghĩa trang để làm kỷ vật. Và sau khi hài cốt được bốc xong, ông lặng lẽ đặt chiếc tiểu sành vào vị trí cũ,  hoàn lại ngôi mộ như nguyên trạng ban đầu. Ông bảo phải giữ lại “nhà”, nhỡ khi anh Chinh lên “thăm” xứ Lạng còn có chỗ để nghỉ ngơi… Nghe ông thổ lộ, mọi người trong đoàn đều không cầm được nước mắt và ai cũng cảm thấy ấm lòng, bất chấp cái lạnh tê tái của đêm đông vùng ải bắc.
Thắp xong nén hương lên mộ phần của người thuộc cấp năm xưa, đại tá Nguyễn Đức Hiệu, nguyên Trưởng ban Tuyên huấn Trung đoàn 12 vào thời điểm anh Lê Đình Chinh hy sinh, hiện là Trưởng ban liên lạc của đoàn Thanh Xuyên, lẳng lặng lần theo những hàng bia mộ trong ánh sáng vàng vọt của bóng đèn cao áp. Hình như ông đang cố tìm xem, liệu ở nghĩa trang này có còn ai là đồng đội, là thuộc cấp của mình. Và những diễn biến bi hùng về sự hy sinh của Lê Đình Chinh đã được người lính già kể lại với một ký ức vẹn nguyên như mới xảy ra hôm qua vậy…
 
Lễ an táng hài cốt anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh tổ chức trang trọng vào ngày 6.1 tại Nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng, TP.Thanh Hóa
 
Lê Đình Chinh trở về trong vòng tay của mẹ
 
Đại tá Nguyễn Đức Hiệu và những đồng đội cũ đã góp phần giúp bà Chu hoàn thành tâm nguyện lúc cuối đời - Ảnh: Ngọc Minh
Sấm giữa trời quang
Vào thời điểm năm 1978, tình hình biên giới Việt - Trung, đặc biệt là ở khu vực các cửa khẩu cực kỳ căng thẳng khi dòng người Hoa từ Việt Nam về nước ngày một nhiều. Ngày 12.7.1978, phía Trung Quốc bất ngờ ra lệnh đóng cửa biên giới, dẫn đến việc hàng ngàn người Hoa bị dồn ứ ở cửa khẩu Hữu Nghị. Họ dựng lều bạt ngay trong khu vực cấm, sinh hoạt làm náo loạn cả một vùng biên giới, gây rất nhiều khó khăn cho ta trong việc giữ gìn an ninh và trật tự xã hội ở vùng biên.
Trước tình hình trên, tỉnh Cao Lạng (gồm Lạng Sơn và Cao Bằng ngày nay) đã huy động lực lượng liên ngành tiến hành vận động, giải tỏa số người Hoa đang ùn ứ tại cửa khẩu. Ngày 25.8.1978, đoàn liên ngành của tỉnh Cao Lạng, với nòng cốt là Hội Phụ nữ tỉnh, đã đến đồi Pù Tèo Hào ở khu vực giáp biên động viên những người Hoa trở về nơi ở cũ làm ăn sinh sống. Để bảo đảm an toàn cho đoàn cán bộ liên ngành, ta huy động 25 cán bộ, chiến sĩ đồn Hữu Nghị và 20 cán bộ, chiến sĩ công an vũ trang nhân dân thuộc Trung đoàn 12 tăng cường tại Km số 0. Tuy vậy, khi đoàn cán bộ liên ngành lên đồi Pù Tèo Hào đã bị một toán người Trung Quốc dùng gậy gộc, dao quắm, gạch đá hành hung. Trước tình huống trên, lực lượng của Đồn biên phòng Hữu Nghị vừa tay không chống đỡ vừa mở đường cho các cán bộ trong đoàn công tác xuống chân đồi. Thế nhưng, lúc này  hàng chục công an biên phòng Trung Quốc mặc thường phục lập tức từ bên kia biên giới kéo sang tấn công ta. Một cuộc chiến không cân sức giữa những chiến sĩ biên phòng tay không chống lại kẻ thù hung hãn với gậy gộc, dao quắm trong tay đã diễn ra ác liệt trên sườn đồi Pù Tèo Hào.
Trước tình thế hiểm nghèo trên, anh Lê Đình Chinh - Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 12 khi đó ở dưới chân đồi đã cùng đồng đội xông lên giải vây. Chỉ bằng tay không, anh và đồng đội đánh gục hàng chục tên địch hung hãn, cứu được một cán bộ phụ nữ tên Thuận đang nằm ngất xỉu trên đồi. Vừa đưa chị Thuận xuống phía dưới, Lê Đình Chinh lại nghe tiếng kêu cứu của đồng đội Lê Xuân Tước. Anh liền quay lại, xông vào cứu Tước thoát khỏi vòng vây của kẻ địch. Mặc dù bị ném đá vào đầu, máu chảy lênh láng, nhưng Lê Đình Chinh vẫn xông lên bắt được một tên và truy kích địch chạy về sát đường biên. Trên đường truy kích, anh bị kẻ địch phục kích sau lán trại dùng gậy vụt ngang ống chân khiến anh ngã sấp xuống đất. Ngay lập tức, 4 công an biên phòng Trung Quốc từ bên kia biên giới lao sang, dùng dao quắm chém tới tấp xuống đầu, cổ anh. Lê Đình Chinh đã anh dũng hy sinh lúc 10 giờ 30 phút trên đồi Pù Tèo Hào, gần sát Km số 0 như thế.
Cái chết của Lê Đình Chinh lúc ấy như một tiếng sấm giữa trời quang, khiến hơn 4.000 người Hoa hoảng loạn, sợ hãi cực độ. Họ xông về phía cửa khẩu, phá cổng biên giới, vượt qua sự trấn áp, ngăn chặn của Công an biên phòng Trung Quốc. Đến 8 giờ tối, trên khu vực biên giới thuộc lãnh thổ Việt Nam không còn một người Hoa nào…
Anh hùng
Ngay sau khi Lê Đình Chinh hy sinh, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã yêu cầu Đồn trưởng Trương Văn Tự của Đồn biên phòng Nam Quan bên Trung Quốc sang làm việc. “Cuộc đấu tranh chính trị giữa ta và họ diễn ra hết sức căng thẳng, kéo dài từ 11 giờ trưa đến 4 giờ chiều 25.8.1978. Cuối cùng, phía Công an biên phòng Trung Quốc đã phải ký vào biên bản, thừa nhận việc Công an biên phòng Trung Quốc vượt biên giới sang sát hại Lê Đình Chinh ngay trên đất Việt Nam. Biên bản này sau đó được chuyển đến cấp trên để chúng ta tiếp tục đấu tranh với họ ở tầm mức cao hơn”, đại tá Hiệu nói. Cũng theo ông Hiệu, nếu không có sự thừa nhận này, chắc chắn tình hình biên giới còn diễn biến hết sức nguy hiểm, bởi phía Trung Quốc đã tận dụng triệt để sự kiện được gọi là “nạn kiều” để gây áp lực lên phía ta.
Thi hài Lê Đình Chinh sau đó được an táng tại khu vực hang Muối, xã Hồng Phong, H.Văn Lãng, gần với đồi Pù Tèo Hào nơi anh hy sinh. Đến năm 1979, anh được đồng đội quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ H.Cao Lộc. Ông Cao Việt Bắc, Phó ban liên lạc đoàn Thanh Xuyên, nguyên Trưởng ban chính sách Trung đoàn 12 vào những năm 1978 -1979, nhớ lại: “Ngay sau khi Chinh hy sinh, tôi và một đồng chí nữa được đơn vị cử về gia đình ở tận Nông trường Sông Âm, H.Ngọc Lặc (Thanh Hóa) để báo tin, đồng thời đón người thân của anh ra Hà Nội tham dự Lễ tuyên dương công trạng do T.Ư Đoàn tổ chức và đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước truy tặng. Đó là buổi lễ vinh danh một cá nhân hoành tráng và xúc động nhất mà tôi được tham dự. Người dân các tỉnh đã cắm cờ đỏ rực dọc hai bên QL1A từ Hà Nội lên đến tận cửa khẩu Hữu Nghị, Lạng Sơn để đón đoàn xe của đơn vị. Bấy giờ cả nước đều hướng lên biên giới phía bắc, thanh niên cả nước đều học tập tấm gương anh dũng của Lê Đình Chinh”.

Ghi chép của Ngọc Minh
(theo Thanh Niên ngày 13.1.2013)

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992: Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân

Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992: Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân (18/01/2013)
Vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 22 và Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 38 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Do đó, một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị UBTƯMTTQ Việt Nam lần thứ 5 (khóa VII) là góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Cần sự phúc quyết của nhân dân


Các đại biểu họp tổ đóng góp ý kiến 
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Hà Nội ngày 17-1
ảnh: Hoàng Long

Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm nhấn mạnh: "Việc tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1992 là việc hệ trọng. Đây cũng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là dịp để phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân, là tình cảm, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong đó có hệ thống MTTQ các cấp”. 

Dân thấy mình trong Hiến pháp

Nhấn mạnh tới nhu cầu sửa đổi Hiến pháp là rất lớn và phải sửa một cách căn bản, Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng, việc xây dựng Hiến pháp phải mang tính kế thừa, vì Hiến pháp là của toàn dân. Khi Quốc hội tiến hành soạn thảo xong và lấy mẫu Hiến pháp năm 1959 làm lập luận, tiến tới lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân để cho người dân thấy rằng ai cũng đều biết đến Hiến pháp. 

Ông Nguyễn Tiến Võ, Ủy viên UBTƯMTTQ Việt Nam đồng ý với ý tứ bổ sung trong Chương I: Chế độ chính trị, Điều 4. Tuy nhiên, ông Võ cũng cho rằng, nên chăng tại phần 1 thay cụm từ lực lượng bằng câu  "Đảng thực sự là tổ chức đủ năng lực và uy tín lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. "Nói như vậy mang tính khẳng định hơn và đúng với thực tế lịch sử cách mạng ở nước ta, vừa tránh được những phân tâm trước những khó khăn, thách thức của thời cuộc hiện nay”, ông Võ khẳng định.

GS. Viện sĩ Trương Công Phú - Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Kinh tế cũng cho rằng, so với Hiến pháp năm 1992 thì bản Hiến pháp lần này có ngắn gọn hơn. Tuy nhiên, so với Hiến pháp năm 1946 thì bản Hiến pháp lần này không toát lên được vấn đề "viết để làm gì”? Hiến pháp phải xác định dân là chủ chứ không phải của một giai cấp, đảng phái nào. Do vậy, Hiến pháp phải viết làm sao để người dân thấy mình thực sự làm chủ đất nước chứ đừng viết để người khác hiểu rằng, dùng quyền lực Nhà nước mà ép buộc dân. 

Theo ông Lê Truyền, nguyên Phó Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam, chưa bao giờ quy mô tiến hành sửa đổi lại lớn đến vậy. Từ công tác biên soạn, đến lấy ý kiến toàn dân và cũng chưa bao giờ nước ta lại thay đổi nội dung của bản Hiến pháp nhiều đến thế. Vậy, khi góp ý hoàn thành thì liệu đây có còn là Hiến pháp năm 1992 nữa không? 

"Hiến pháp năm 1992 cũng đã kéo dài 21 năm và nếu lấy mốc năm 86 thì Hiến pháp đã có nhiều biến đổi và cũng đưa ra nhiều quan điểm của Đảng vào đấy. Nếu sửa đổi lần này nữa, Hiến pháp năm 1992 sẽ có trên 90% nội dung đã sửa đổi, bổ sung (chỉ còn 11 điều giữ nguyên trong 124 điều). Nếu nhìn trên diện rộng và lấy ý kiến nhân dân thực chất thì chắc chắn việc sửa đổi còn nhiều hơn nữa”, ông Truyền khẳng định.  

Mặt trận phải có chính kiến 

Theo ông Đặng Văn Khoa, Chủ tịch Công ty Văn Khoa Sài Gòn, Ủy viên UBTƯMTTQ Việt Nam, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này phải làm sao cho người dân thấy rằng, mình thực sự làm chủ trong xây dựng đất nước. Chính vì vậy, phải làm bật cả các ý kiến đang còn trái chiều để tạo sự đồng lòng. "Ngoài việc Mặt trận phải tập hợp đầy đủ các ý kiến của nhân dân thì Mặt trận phải có chính kiến của mình, rõ ràng và dứt khoát chứ không đơn thuần chỉ "ghi lại ý kiến”, ông Khoa nói.

Ông Khoa cũng đề nghị, Hiến pháp cần phải có sự phúc quyết của người dân. Theo ông Khoa, khi Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp, nhưng vẫn phải có sự phúc quyết của nhân dân để người dân thấy được sự dân chủ, và mình thực sự làm chủ đất nước.  

Ông Nguyễn Túc, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Văn hóa xã hội cho biết, trong điều 9 của Hiến pháp năm 1992 có nêu: Mặt trận chính là cơ sở chính trị của nhân dân thì trong Hiến pháp sửa đổi lại không có, thay vào đó là "Nhà nước tạo điều kiện”. Rõ ràng, tạo điều kiện là khác so với cơ sở chính trị. "Không thể bỏ những cái trước đấy đã có trong Nghị quyết của Đảng và trong Luật của MTTQ. Tôi đề nghị phải ghi lại. Còn  biểu trưng của MTTQ nên chăng phải có bút tháp hoặc có quyển sách để thể hiện đội ngũ trí thức phải nằm trong công nhân, nông dân vì tinh thần của xã hội hiện nay là trí tuệ mà trí tuệ lại chưa được thể hiện trong biểu trưng của Mặt trận hiện nay” ông Túc đề nghị. 

Góp ý tiếp cho Điều 9 của Hiến pháp sửa đổi nói về Mặt trận, ông Nguyễn Tiến Võ, ủy viên UBTƯMTTQ Việt Nam đề nghị bổ sung: MTTQ Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị trước khi nói Mặt trận là cơ sở chính trị. Ông Võ cho rằng, cần bổ sung vai trò của Mặt trận là đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng  theo như cương lĩnh mới của Đảng. Như vậy, Mặt trận mới làm được nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội để không trở nên hình thức, không khả thi khi thực hiện.

Phó Giáo sư Hoàng Xuân Sính, Phó Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam:  
Lên phường vẫn là việc khổ sở 

Tôi đã gặp nhiều trường hợp buồn cười, nếu chiểu theo quan hệ với cấp Thủ tướng thì lại dễ giải quyết chứ cấp phường thì rất khó khăn. Ngay như việc cấp giấy tờ, hộ khẩu. Nhiều gia đình phải đi lại cả tháng trời chỉ để làm những việc liên quan đến thủ tục nếu như không có sự "lót tay” cho cán bộ phường thì cứ động đến cái gì là khó cái đó. Đây là sự "day dứt” của tất cả người dân và tôi cũng là người đã gặp không ít phiền phức. Đến ngay cả mình là thành viên Mặt trận mà đến cơ quan phường còn ngại thì nói gì đến dân? Từ ngày tôi tham gia vào Mặt trận đến bây giờ, lên phường với tôi vẫn luôn là việc khổ sở và qua nhiều năm phường vẫn thế, không cải tiến gì cả. Đây quả thật là một gánh nặng. Trong lần góp ý và Dự thảo Hiến pháp lần này, Quốc hội không thể bỏ qua việc cải cách các thủ tục hành chính. 


Ông Lê Truyền, nguyên Phó Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam: 
Khả năng thực thi của quyền công dân đến đâu? 

Xung quanh vấn đề con người và quyền công dân càng đọc càng thấy lẫn lộn quá nhiều và chưa nói rõ thế nào là quyền công dân, thế nào là quyền con người bởi trong Hiến pháp có tất cả 13 quyền và 17 lần nói về quyền công dân. Trong sự so sánh về quyền và quyền công dân thì cũng chưa rõ ràng, chưa mạch lạc trong việc xác định những quyền nào theo Hiến pháp và quyền nào thực thi theo pháp luật. Đây cũng là một điểm phải tính và những quyền nào chưa thể hoặc chưa thể thực thi trong Hiến pháp. Trong các bản Hiến pháp trước đây có vẻ rất hay, rất ưu việt nhưng nhiều nội dung lại chưa bao giờ dùng tới và không có cơ sở thực hiện. Bài toán đặt ra là hàng loạt quyền công dân đưa vào Hiến pháp nhưng khả năng thực thi đến đâu? 

GS. Viện sĩ Trương Công Phú, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Kinh tế: 
Cần có quy định bắt buộc những hành vi vi Hiến phải sửa chữa 

Trong bản Hiến pháp mới có đưa vào vấn đề Kiểm toán Nhà nước, và Hội đồng Hiến pháp, song nội dung mới dừng ở mức phát hiện để báo cáo Quốc hội chứ chưa có xử lý. Do vậy Hội đồng Hiến pháp phải có những quy định yêu cầu bắt buộc những hành vi vi Hiến phải sửa chữa . Điều 4 của Hiến pháp nói về Đảng, nhưng mới chỉ có quyền còn chưa có trách nhiệm. Chính vì vậy, phải quy định Đảng phải hoạt động theo luật, và cần phải nghiên cứu để có luật này. 
                                      (Trích http://daidoanket.vn/index.aspx?chitiet=60247&menu=1371&style=1)